Thứ Ba, 13 tháng 11, 2018

Báo Hải Quan: Dự án Đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam: Vì sao khó gọi vốn nước ngoài?

Theo báo cáo cuối kỳ về nghiên cứu tiền khả thi dự án Đường sắt tốc độ cao Bắc –Nam, dự kiến tổng vốn đầu tư sẽ vào khoảng 58,71 tỷ USD. Đây là số vốn lớn khi ngân sách nhà nước đang khó khăn và thực tế việc gọi vốn của các doanh nghiệp tư nhân vào dự án này cũng không dễ.

Bài viết này thuộc danh mục:✅ Kinh tế, được chúng tôi tổng hợp từ báo Hải Quan, nguồn bài: http://www.baohaiquan.vn/pages/vi-sao-kho-goi-von-nuoc-ngoai.aspx

Dự án được đầu tư theo hình thức hợp tác công - tư (PPP), trong đó nhà nước đầu tư hạ tầng, với tổng vốn chiếm 80% (huy động hàng năm từ 0,3% - 0,55% GDP, bằng khoảng 10% vốn đầu tư cơ sở hạ tầng). Ảnh: Internet.

Nhà nước sẽ phải bù lỗ từ 10-12 năm

Theo kết quả nghiên cứu tiền khả thi của Liên danh Tư vấn, Dự án Đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam có điểm đầu là ga Hà Nội, điểm cuối là ga Thủ Thiêm (TPHCM). Dự án đi qua 20 tỉnh, thành với chiều dài toàn tuyến khoảng 1.545km, đường đôi - khổ 1.435mm, có 24 ga và 3 ga quy hoạch tiềm năng, 5 depot, 42 cơ sở bảo trì hạ tầng.

Trong giai đoạn đầu, tuyến đường sắt sẽ kết nối với ga Hà Nội bằng cách đi chung hạ tầng với tuyến đường sắt đô thị Hà Nội số 1 (dài 14km). Trong tương lai, khi nhu cầu tăng cao, tuyến đường sắt đô thị không đủ năng lực đáp ứng để khai thác thêm tàu tốc độ cao, tàu tốc độ cao sẽ dừng tại ga Ngọc Hồi.

Dự án có tổng vốn đầu tư 58,71 tỷ USD. Trong đó, giai đoạn đầu xong vào năm 2032 với đoạn Hà Nội - Vinh (dự kiến 13,97 tỷ USD) và Nha Trang – TP. HCM (dự kiến 13,37 tỷ USD). Đoạn còn lại nối Vinh - Nha Trang khởi công năm 2035 và hoàn thành vào năm 2050.

Bộ Giao thông vận tải dự kiến hoàn thiện báo cáo nghiên cứu tiền khả thi để trình Chính phủ trong tháng 8/2019 để Chính phủ trình Quốc hội trước khi Quốc hội xem xét thông qua trong tháng 10/2019.

Trường hợp được Quốc hội thông qua sẽ triển khai chuẩn bị nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật, giải phóng mặt bằng từ 2020 - 2025 và triển khai xây dựng từ 2026, dự kiến đưa vào khai thác đoạn ưu tiên (bao gồm cả đoạn thử nghiệm) năm 2032; tiếp tục triển khai xây dựng các đoạn còn lại từ 2035, phấn đấu hoàn thành toàn tuyến vào năm 2050.

Dự án được đầu tư theo hình thức hợp tác công - tư (PPP), trong đó nhà nước đầu tư hạ tầng, với tổng vốn chiếm 80% (huy động hàng năm từ 0,3% - 0,55% GDP, bằng khoảng 10% vốn đầu tư cơ sở hạ tầng); vốn nhà đầu tư huy động bằng khoảng 20% tổng vốn dự án để mua sắm thiết bị đoàn toàn và khai thác hoàn vốn. Hiệu quả kinh tế đạt khoảng 7,5%, hiệu quả tài chính đạt 1,9% (trong đó riêng phần vốn tư nhân đạt hiệu quả khoảng 14%).

Về vấn đề này, tại hội thảo công bố báo cáo cuối kỳ về nghiên cứu tiền khả thi dự án đường sắt tốc độ cao Bắc Nam vừa được Bộ Giao thông vận tải tổ chức, Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Ngọc Đông cho biết, ngoài chi phí 58,71 tỷ USD đầu tư xây dựng, mua sắm trang thiết bị, dự kiến khi vận hành, thời gian đầu nhà nước vẫn phải hỗ trợ khoảng 10 năm qua chi phí duy tu, bảo dưỡng.

Cần xem xét lại phân kỳ đầu tư

Theo đánh giá của Thứ trưởng Nguyễn Ngọc Đông, với nguồn lực đầu tư quá lớn, không nhà đầu tư nào trong nước đủ khả năng đầu tư hoàn toàn hạ tầng. Đối với nhà đầu tư nước ngoài, việc đầu tư vào cũng khó khả thi vì thời gian đầu tư kéo dài, thu hồi vốn quá lâu, buộc phải có sự hỗ trợ của nhà nước.

Cũng theo Thứ trưởng Nguyễn Ngọc Đông, hiện nay không có cơ chế phân chia rủi ro rõ ràng, đặc biệt trong giai đoạn khai thác. Bởi nhà đầu tư lo ngại khi số lượng hành khách sụt giảm thì nhà nước can thiệp thế nào? Đồng thời việc các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư bằng ngoại tệ thu nội tệ nhưng lại chưa có cơ chế về bù tỷ giá hay nếu xảy ra trường hợp giải phóng mặt bằng kéo dài, chậm thì ai sẽ chịu trách nhiệm...?

Cũng tại hội thảo, đánh giá về việc gọi vốn đầu tư cho dự án này, GS.TSKH Lã Ngọc Khuê, nguyên Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải cho rằng, theo kịch bản nhu cầu tăng trưởng hạ tầng, đến năm 2030 - 2031 nếu không có thêm loại hình giao thông mới, đường bộ, hàng không sẽ ùn tắc không đáp ứng được nhu cầu. Đầu tư đường sắt tốc độ cao là cần thiết, nhưng phân kỳ đầu tư như thế nào, hiệu quả tài chính kinh tế dự án, khả năng thu xếp vốn là điều cần tính toán kỹ. Cần tính toán xem tổng mức đầu tư 58,71 tỷ USD đã là tối ưu nhất hay chưa, mức đầu tư này đã hợp lý chưa…? Ngoài ra, cũng nên xem lại phân kỳ đầu tư cần đến 30-40 năm mới hoàn thiện dự án là quá dài, một số nhà đầu tư tư nhân sẽ lo ngại thời gian đầu tư quá dài.

Phát biểu tại hội thảo, Tiến sỹ Vũ Hoài Nam (Đại học Giao thông vận tải) cũng cho rằng, Việt Nam cần cân nhắc vì để làm được dự án thì nhà nước phải đi vay 100% với số tiền lên tới 58,71 tỷ USD và số vay này sẽ khiến nợ công vượt trần, nợ gốc và lãi hàng năm phải trả là rất lớn, gây áp lực lên nền kinh tế.

Xuân Thảo

Tìm kiếm:✨

  • Đầu tư, Vốn đầu tư, Hạ tầng, Nghiên cứu tiền khả thi, Dự án, Đường sắt tốc độ cao, Phân kỳ, Nguyễn Ngọc Đông, Bộ giao thông vận tải, Tại hội thảo, Trì Hạ, Cho dự án, Gọi vốn, Hà Nội Bằng, GDP, Lã Ngọc Khuê, Quốc hội thông qua, Đoàn Toàn, Việt nam, Xuân Thảo, Internet, Tổng số vốn, Đồng nội, Đường đôi, Tiền tệ, Bản tệ, Tỉ giá hối đoái, Dự án đầu tư nước ngoài, Tuyến đường sắt